Sự chuyển dịch chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu và cơ hội của Việt Nam

Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung không đơn thuần là hệ quả của việc tái cấu trúc cán cân thương mại cho nền kinh tế Mỹ. Cuộc chiến này ngoài việc ảnh trực tiếp tới hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, nó còn tác động tới tương lai của kinh tế toàn cầu.

Song với Việt Nam, tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách – VEPR nêu ra một tác động quan trọng từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, “đó là sự chuyển dịch chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu. Và tại đó, Việt Nam đang nổi như một điểm đến sáng giá, do tính tương đồng về văn hóa và môi trường thể chế so với Trung Quốc. Thêm vào đó, giá nhân công thấp, người lao động khéo tay cùng với tình hình ổn định kinh tế-chính trị cũng là lợi thế của Việt Nam.”

Báo VietnamPlus có cuộc trao đổi cùng tiến sỹ Nguyễn Đức Thành nhìn lại diễn biến kinh tế trong nước năm qua đồng thời đưa ra những kiến nghị chính sách cho phát triển kinh tế năm 2019.

– Ông đánh giá như thế nào về tình hình kinh tế Việt Nam với những con số ấn tượng của năm, như tăng trưởng GDP đạt 7,08%, cao nhất trong 10 năm trở lại và chỉ số sản xuất công nghiệp – PMI đạt mức cao dẫn đầu ASEAN?

Tiến sỹ Nguyễn Đức Thành: Kinh tế thế giới chứng kiến một năm phục hồi thiếu đồng đều và chắc chắn, trong khi nền kinh tế Mỹ đạt tốc độ tăng trưởng tốt thì các nền kinh tế phát triển khác và các quốc gia mới nổi lại gặp những vấn đề riêng của mình. Bên cạnh đó, tiến trình “bình thường hóa” chính sách tiền tệ ở Mỹ và châu Âu cũng là điểm chú ý của năm. Và phải nói rằng, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sau khi kích hoạt, đã thay đổi hoàn toàn bức tranh của nền kinh tế toàn cầu.

Trong nước, kinh tế Việt Nam đã hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế-xã hội mà Quốc hội đề ra. Tuy nhiên cần phải sòng phẳng nhìn nhận, khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp – FDI vẫn giữ vai trò đầu tàu, đóng góp chính vào tăng trưởng thương mại với tỷ trọng xuất siêu lớn 32,81 tỷ USD/năm 2018 (bằng gần 14%GDP). Điều này cũng đang chỉ ra điểm yếu của nền kinh tế và ít nhiều đặt ra câu hỏi cho “hướng đi của nền kinh tế trong tương lai khi đã quá phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.”

– Trong năm 2018, môi trường kinh doanh trong nước đã được cải thiện đáng kể với quyết tâm của Chính phủ và các bộ ngành trong việc hiện cắt giảm các điều kiện kinh doanh không cần thiết, theo ông công việc tiếp theo của năm 2019 là gì?

Tiến sỹ Nguyễn Đức Thành: Năm qua, hàng nghìn điều kiện kinh doanh đã được dỡ bỏ, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và những chi phí không chính thức. Thông qua chỉ số xếp hạng mức độ thuận lợi kinh doanh (EBDI), Ngân hàng Thế giới đã ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong việc cải cách thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh ngày càng lành mạnh hơn.

Tuy nhiên để có được một môi trường kinh doanh thực sự cạnh tranh so với khu vực, số điều kiện kinh doanh cần tiếp tục dỡ bỏ vẫn còn rất lớn.

Nếu như trước đây, lao động giá rẻ cộng thêm các chính sách ưu đãi về đất đai và thuế là chìa khóa để thu hút doanh nghiệp FDI, thì nay việc gỡ bỏ các rào cản, cải cách thể chế được xem là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy khởi nghiệp và sự lớn mạnh của khối doanh nghiệp trong nước.

Thêm vào đó, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đang bắt đầu chậm lại cùng với sức ép tăng thuế và phí vẫn luôn thường trực. Đây chính là những “vật cản” đối với tăng trưởng nền kinh tế trong dài hạn.

Không thể phủ nhận, triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam với việc khu vực FDI tiếp tục dẫn đầu trong dài hạn. Tuy nhiên, khu vực nội địa kỳ vọng có thể bắt kịp cùng với kết quả của quá trình gỡ bỏ rào cản thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.

Do đó, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước nên đặt nhiệm vụ trọng tâm là thu gọn đầu mối quản lý, xóa bỏ các lực cản nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa thay vì sa đà vào việc cố gắng bảo vệ và duy trì khu vực doanh nghiệp Nhà nước vốn đã không thể hoạt động hiệu quả bằng khu vực tư nhân.

– Như vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng được các cơ hội và có thể đối phó những thách thức gia tăng?

Tiến sỹ Nguyễn Đức Thành: Hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế trong năm 2019 được kỳ vọng sẽ khởi sắc khi các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU chính thức được thông qua.

Thêm vào đó, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn hiếm hoi tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất khi mà các nhà đầu tư có xu hướng rời bỏ Trung Quốc do lo ngại từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Tuy nhiên, đề tiếp cận được những cơ hội trên đòi hỏi Việt Nam cần phải cải thiện môi trường thể chế, kinh doanh và chất lượng lao động trong nước nhiều hơn nữa.

Theo nhận định của chúng tôi, vấn đề lớn nhất của Việt Nam vẫn nằm ở chính sách tài khóa khi mà bức tranh ngân sách và nợ công vẫn không cải thiện nhiều trong các năm qua.

Hiện tại, quy mô nợ công đang lớn và sát ngưỡng cho phép (65% GDP) khiến gánh nặng chi trả nợ gốc và lãi rất cao. Bên cạnh đó, nguồn thu ngân sách sau khi thực hiện tiêu dùng của Nhà nước còn dư thừa không đáng kể đồng thời vẫn thiếu vắng tiết kiệm để thực hiện đầu tư phát triển, như vậy Việt Nam sẽ thiếu “đệm tài khóa” để đối phó với các cú sốc bên ngoài. Và trong hoàn cảnh này, môi trường kinh doanh không dễ được cải thiện do người dân và doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nỗi lo tăng thuế, phí để bù đắp cho thâm hụt ngân sách.

Do đó, năm 2019 cùng với tiến trình “bình thường hóa” chính sách tiền tệ từ các nước phát triển và áp lực leo thang từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, bên cạnh tiến trình cải thiện điều kiện thể chế – kinh tế trong nước, cải cách tài khóa và thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, Việt Nam cần tập trung chuẩn bị các điều kiện về tài khóa, tiền tệ và tỷ giá để sẵn sàng đối mặt với những bất ổn từ kinh tế thế giới, như chính sách tỷ giá linh hoạt, điều tiết và giám sát chặt chẽ hệ thống tài chính.

Xin cảm ơn ông!

Leave A Reply

Your email address will not be published.