Nam Á – "miếng mồi ngon" trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung

Trang mạng Diễn đàn Đông Á vừa đăng bài viết của Amitendu Palit, chuyên gia nghiên cứu cấp cao về chính sách kinh tế và thương mại tại Viện Nghiên cứu Nam Á, Đại học tổng hợp quốc gia Singapore, phân tích về các tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đối với khu vực Nam Á. Nội dung bài viết như sau:

Cuộc chiến thuế quan giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tạo ra những hậu quả sâu rộng đối với các quan hệ thương mại giữa các quốc gia khác.

Thậm chí Nam Á – một trong những khu vực hội nhập kinh tế ít nhất thế giới, cũng như có sự hiện diện kinh tế rất nhỏ bé trong chuỗi giá trị toàn cầu so với các khu vực Đông Á và Đông Nam Á – cũng bị ảnh hưởng.

Mặc dù tranh chấp thương mại song phương Mỹ-Trung có thể tạo ra một số cơ hội kinh tế cho Nam Á, nhưng về lâu dài những cơ hội này sẽ bị bao trùm bởi các tác động bất lợi mà cuộc chiến thương mại gây ra.

Cả Mỹ và Trung Quốc đã đưa ra các biện pháp tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của nhau. Kết quả là cả hai quốc gia này đều đang tìm kiếm các nguồn hàng thay thế rẻ hơn từ các quốc gia khác, đặc biệt là đối với các loại sản phẩm mà sản xuất trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu nội địa.

Nam Á đã sẵn sàng để hưởng lợi từ kịch bản này. Các nghiên cứu về những tác động thương mại có thể có cho thấy Pakistan sẽ là một trong những nước hưởng lợi nhiều nhất tại châu Á, sau đó là Malaysia và Nhật Bản.

Ấn Độ và Bangladesh cũng được dự báo sẽ thu được lợi ích, nhưng ở mức độ thấp hơn. Hầu hết cơ hội là ở lĩnh vực xuất khẩu nông sản, chẳng hạn như đậu nành, mặt hàng mà Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào các nhà cung ứng Mỹ. Các cơ hội khác đến từ lĩnh vực nhập khẩu ôtô và thiết bị y tế.

Về dài hạn, Ấn Độ dự kiến sẽ thu lợi nhờ các quyết định di dời địa điểm sản xuất ra khỏi Trung Quốc của các doanh nghiệp lớn trên toàn cầu.

Lợi thế địa điểm của Ấn Độ có được nhờ sở hữu một thị trường nội địa rộng lớn và tầng lớp trung lưu đang phát triển với xu hướng tiêu thụ cao.

Điều này đặt Ấn Độ lên trước các nền kinh tế khác của Nam Á, như là một địa điểm phù hợp để thiết lập các cơ sở lắp ráp hàng tiêu dùng nhanh, ô tô, điện tử và các sản phẩm công nghệ thông tin.

Ấn Độ cũng được các nhà quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu xem là một địa điểm thuận tiện để xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước thứ ba nhờ đạt được tiến bộ nhanh chóng trong việc giảm chi phí hoạt động, phản ánh thông qua việc cải thiện thứ hạng của nước này về tiêu chí kinh doanh thuận lợi nhất trong báo cáo xếp hạng kinh doanh của Ngân hàng Thế giới.

Những cơ hội dành riêng cho Ấn Độ và Nam Á tồn tại bên cạnh những tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại, phát sinh từ sự không liên quan ngày càng tăng của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và sự liên kết giữa các mối quan hệ thương mại với những lý do địa chính trị hơn là các lý do kinh tế.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chỉ trích nặng nề WTO và dọa rút Mỹ ra khỏi tổ chức đề ra các quy tắc thương mại đa phương này. Các biện pháp thuế quan đơn phương do Mỹ áp đặt đối với thép và nhôm nhập khẩu và với rất nhiều hàng hóa nhập khẩu khác từ Trung Quốc cho thấy Mỹ rõ ràng không coi trọng các quy tắc của WTO.

WTO đã không thể ngăn chặn những hành động này cũng như các biện pháp trả đũa từ các quốc gia khác. Điều đó làm dấy lên nghi ngờ về khả năng của WTO trong việc quản lý có hiệu quả thương mại toàn cầu. Tầm quan trọng ngày càng giảm của WTO và các quy tắc thương mại toàn cầu không phải là điềm tốt cho Ấn Độ và các nền kinh tế Nam Á.

Ấn Độ là thành viên tích cực của WTO, cùng với các quốc gia Nam Á khác như Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka và Nepal. Các nền kinh tế Nam Á phụ thuộc rất nhiều vào WTO để tăng cường sự hiện diện của mình trong thương mại toàn cầu.

Một trong những lý do chính của sự phụ thuộc này là do các quốc gia Nam Á ít tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực.

Ngay cả Ấn Độ, nền kinh tế lớn nhất Nam Á, cũng không tích cực tham gia các FTA như các nền kinh tế lớn khác trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Singapore.

Một vài tổ chức doanh nghiệp và xã hội dân sự trong khu vực vẫn tỏ ra hoài nghi về các lợi ích mà FTA mang lại. Sự hoài nghi này bao trùm lên các chính phủ quốc gia và tạo ra thái độ phòng thủ trong các cuộc đàm phán thương mại.

Cách tiếp cận ở thế phòng thủ của Ấn Độ tại các cuộc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang diễn ra là một ví dụ.

Nếu WTO ngày càng đánh mất tầm quan trọng và các FTA song phương hay khu vực trở thành chìa khóa chính của thương mại toàn cầu, Ấn Độ và Nam Á có thể trở thành các chủ thể nhỏ bé hơn trong nền thương mại thế giới.

Mối lo ngại nghiêm trọng khác đối với Nam Á là việc các cường quốc gia tăng xu hướng điều chỉnh các liên minh thương mại trên cơ sở địa chính trị. Mỹ và Trung Quốc đều đang tìm kiếm cơ hội hạn chế tầm quan trọng kinh tế của nhau trong các thị trường toàn cầu, bằng cách sử dụng ảnh hưởng địa chính trị để làm điều đó.

Mỹ đã sửa đổi các thỏa thuận thương mại với Canada, Mexico và Hàn Quốc để được tiếp cận các thị trường này với nhiều ưu đãi hơn. Trung Quốc cũng đang cố gắng đạt được mục tiêu tương tự thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường.

Trong một môi trường như vậy, Nam Á đang liều mình trở thành mồi ngon cho cuộc chiến Mỹ-Trung và bị ép buộc tham gia mối quan hệ thương mại bất bình đẳng./.

Leave A Reply

Your email address will not be published.